Các thành phần nguy hiểm có trong mỹ phẩm nên tránh?

Da của con người bao bọc và bảo vệ cơ thể chúng ta. Nó tạo thành một hệ thống mô sống, năng động, có khả năng hấp thụ một phần hoặc toàn bộ các sản phẩm được dùng trên da vào máu. Trên thực tế, đến 60% sản phẩm sử dụng trên da được hấp thu và đưa vào hệ tuần hoàn (Theo Fairley, 2001). Ví dụ, một phụ nữ trung bình hấp thụ 13.5kg các thành phần từ sản phẩm dưỡng ẩm trong sáu mươi năm sử dụng (Tiến sĩ Hauschka cho biết).

Những hiểu biết mới về các chức năng của da cho thấy mối quan tâm đến các tác động lâu dài do sự kết hợp của các hóa chất được sử dụng trong mỹ phẩm, thường được gọi là "hiệu ứng cocktail hóa học". Một số hóa chất được sử dụng trong mỹ phẩm đại trà, phổ biến được biết là chất kích thích và chất gây ung thư. Mối quan tâm bắt nguồn từ sự nhận biết hầu hết các thành phần này được tinh chế từ chất tổng hợp hoặc từ dầu mỏ. Tránh các chất này làm giảm sự phơi nhiễm toàn diện với các thành phần mỹ phẩm gây hại hoặc gây kích ứng.

 

Các nguyên liệu nên tránh

Các hình thể được tìm thấy trong mỹ phẩm và tác dụng phụ

Nhôm

Gây ra bệnh Alzheimer.

Xuất hiện nhiều trong thuốc chống ra mồ hôi trộm.

Làm bít lỗ chân lông để mồ hôi không thể tiết ra trên da

Chất màu tổng hợp

FD&C, chiết xuất từ nhựa than đá.

Ví dụ, màu nhuộm Azo thì nguy cơ gây ra bệnh hen suyễn, bệnh chàm, và mẫn cảm với aspirin

Nguyên nhân gây bệnh hiếu động ở trẻ em, đau đầu nghiêm trọng, thị lực mờ và mắt và mũi ngứa/mụn nước (Antczak, 2001).

Chất bảo quản Benzoates

Có từ Axit Benzoates Benzoic, natri benzoate hoặc parahydroxy benzoate.

Được sử dụng làm chất bảo quản trong mỹ phẩm và đồ uống có ga. Gây ra kích ứng dạ dày, tê miệng và làm nặng thêm bệnh hen suyễn (Antczak, 2001).

Các loại tinh dầu

Cây hương thảo có hại cho bệnh động kinh. Cây ngải đắng thì không thích hợp cho phụ nữ mang thai.

Các chất gây ung thư DEA, MEA, TEA

Gây dị ứng, kích ứng vùng mắt và làm khô tóc và da (Fairley, 2001).

Chất dẻo Dibutyl phthalate

Tìm thấy trong tất cả những người được Trung tâm kiểm soát Bệnh tật, Mỹ (CDC) làm kiểm tra cho một nghiên cứu vào mùa thu năm 2000.

Mức cao nhất được tìm thấy ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ.

Nguyên nhân dị tật bẩm sinh ở động vật, và phá hoại hệ thống sinh sản nam giới (tờ tin tức ABC, tờ Internet Ventures 2000).

Được sử dụng trong mỹ phẩm để giúp hấp thu các thành phần khác.

Chất Formandehyde

Chất bảo quản.

Gây ra dị ứng da.

Imidazolidinyl urê là chất bảo quản được xác định thứ hai gây ra viêm da tiếp xúc (Học viên da liễu Mỹ: Fairley, 2001).

Chất bảo quản Hydantoin DMDM

Chất bảo quản Quaternium 15

Chất hạn chế tốc độ tăng trưởng vi khuẩn Diazolidinylurea

2-bromo-2-nitropropane-1

3-diol

Hương thơm

Có thể chứa tới 200 chất không được khai báo (Fairley, 2001).

Nguyên nhân chính, bên cạnh chất màu tổng hợp, còn có các kích ứng da và dị ứng (Antczak, 2001).

Có thể gây suy nhược, kích ứng da và tăng sắc tố (Fairley, 2001).

Các chất làm biến đổi Gen

Đậu nành, bắp

Chưa xác nhận được sự ảnh hưởng.

Dung môi Isopropyl Alcohol

Làm khô tế bào, chiết xuất từ dầu

Hóa chất Keratolytic

Giống như axit hydroxul, axit retinoic,

Ăn mòn, được sử dụng để làm bong da

Làm tan lớp vỏ ngoài của lớp biểu bì (lớp bên ngoài), làm cho da nhạy cảm hơn với ánh nắng mặt trời.

Tăng cường sản xuất các tế bào da chết; da dày lên để làm lành bề mặt nên các tế bào da dễ bị tổn thương bên dưới được bảo vệ khỏi các tác động của việc bong da (Antczak, 2001).

Chất ăn mòn Methylisothiazolinone

Gây dị ứng và kích ứng (Fairley, 2001).

Chất kháng khuẩn, kháng nấm Paraben

Sản phẩm từ dầu mỏ.

Kích hoạt sự kích ứng da và có thể là xerestrogen (Fairley, 2001). Có thể đóng vai trò giảm số tinh trùng và tăng tỷ lệ ung thư vú (Fairley, 2001). Được sử dụng trong 99% mỹ phẩm (Fairley, 2001), và trong rất nhiều loại được gọi là 'sản phẩm tự nhiên'.

Parraffin

Chiết xuất từ dầu mỏ.

Dưới hình dạng sáp, dầu mỏ hoặc mỡ bôi trơn

Gây bít và tắc lỗ chân lông

Propylene Glycol

Chiết xuất từ dầu mỏ

Làm gia tăng lượng axit trong cở thể, gây ra các vấn đề liên quan đến trao đổi chất.

Số lượng lớn sẽ gây ra ảnh hưởng (Liên hiệp về các phụ gia độc hại và đăng ký dịch bệnh -  ATSDR, 2003).

Sodium laureth sulfate, Sodium lauryl sulfate

Hình thành các hợp chất nitơ gây ung thư khi kết hợp với các thành phần cụ thể.

Kích ứng mắt, da và phổi (Antczak, 2001).

Có hại nếu nuốt phải và có thể gây hư tổn mắt (Antczak, 2001).

Mỡ động vật

Mỡ động vật

Không thích hợp cho người ăn chay, và có thể bị kích ứng da.

Chất Toluene

Được tìm thấy trong các sản phẩm làm móng và tẩy móng.

Được sản xuất trong quá trình chế tạo ra xăng và các loại dầu khác từ dầu thô và than đá.

Bốc hơi vào không khí khi các sản phẩm có chứa toluene được giải thoát.

Có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh, và / hoặc gây mệt mỏi, nhầm lẫn, đột quỵ, buồn nôn, hoặc buồn ăn.

Các triệu chứng biến mất khi phơi nhiễm bị loại bỏ (ATSDR, 2003).

 Tại Canada, không phải tất cả mỹ phẩm đều liệt kê thành phần của họ trên nhãn mác, nhưng hầu hết đều có số điện thoại miễn phí để liên kết bạn với các bộ phận dịch vụ khách hàng của họ, bạn có thể yêu cầu danh sách nguyên liệu ở đây. Xem nhãn mác và nhận ra các thành phần có vấn đề là những kỹ năng cần thiết cho người tiêu dùng có ý định chọn những sản phẩm hoàn toàn tự nhiên. Chi phí của một mỹ phẩm không phải là một chỉ số đáng tin cậy về chất lượng hoặc các đặc tính tự nhiên của nó. Hầu hết các mỹ phẩm, từ những sản phẩm có giá thấp nhất đến những thương hiệu đắt tiền đều có thành phần cơ bản giống nhau (Theo Begoun, 1991).

Mỹ phẩm không chỉ ở trên bề mặt của da mà còn thâm nhập vào da ở một mức độ nào đó. Ví dụ, người sử dụng son môi tiêu thụ từ 1,5 đến 4 ống trong đời (Theo Aveda). Nếu người ta xem xét các thành phần được cơ thể hấp thụ, việc hấp thụ dầu thực vật và sáp, chất màu khoáng chất hoặc tinh dầu là một lựa chọn lành mạnh hơn là hấp thụ các phụ phẩm xăng dầu và các hóa chất tổng hợp. Khả năng lựa chọn mỹ phẩm phù hợp với bạn phụ thuộc vào kiến thức chính xác về thành phần, nhu cầu cá nhân và lựa chọn thị trường. Chăm sóc toàn bộ cơ thể bao gồm những lựa chọn chăm sóc da để hỗ trợ và đóng góp vào một lối sống lành mạnh.

Các mỹ phẩm và sản phẩm trang điểm tự nhiên là những lựa chọn an toàn hơn, lành mạnh hơn, đặc biệt là khi những sản phẩm này bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên. Một sản phẩm tự nhiên được mô tả như là một hỗn hợp có thành phần chủ yếu hoặc hoàn toàn được chiết xuất từ tự nhiên (theo Antczak, 2001). Nó cũng chỉ ra rằng sản phẩm không có hoặc có chứa một ít các chất phụ gia hoá học nhân tạo. Tuy nhiên, cần thận trọng khi sản phẩm được tuyên bố là tự nhiên. Ví dụ, chúng có thể chứa một lượng nhỏ chất chiết xuất thực vật, nhưng phần lớn sản phẩm là từ hóa dầu và chứa đầy chất tạo mùi. Thay vào đó, hãy xem xét chuyển sang các sản phẩm hoàn toàn tự nhiên, có cùng tác dụng cơ bản như các mỹ phẩm hóa chất.

Chuyển sang các mỹ phẩm và làm đẹp hoàn toàn tự nhiên có thể giúp bạn tránh bị ăn mòn da từ các chất gây hại. Nhiều vấn đề về da, chẳng hạn như mụn, viêm da tiếp xúc, kích thích và dị ứng có thể biến mất khi chất hóa dầu hoặc các thành phần tổng hợp được loại bỏ khỏi chu trình chăm sóc da của bạn. Sử dụng các sản phẩm hoàn toàn tự nhiên có thể góp phần cho làn da và cơ thể khỏe mạnh trong thời gian dài.

 


Cũ hơn Bài viết mới